Thị trường đầu cơ sinh ra trong sự ảm đạm, lớn lên bằng sự hoài nghi, phát triển nhờ sự lạc quan và chết bởi sự thỏa mãn – Sir John Templeton
Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2009
The Stochastic Oscillator Technical Indicator compares where a security’s price closed relative to its price range over a given time period. The Stochastic Oscillator is displayed as two lines. The main line is called %K. The second line, called %D, is a Moving Average of %K. The %K line is usually displayed as a solid line and the %D line is usually displayed as a dotted line.
There are several ways to interpret a Stochastic Oscillator. Three popular methods include:
Buy when the Oscillator (either %K or %D) falls below a specific level (e.g., 20) and then rises above that level. Sell when the Oscillator rises above a specific level (e.g., 80) and then falls below that level;
Buy when the %K line rises above the %D line and sell when the %K line falls below the %D line;
Look for divergences. For instance: where prices are making a series of new highs and the Stochastic Oscillator is failing to surpass its previous highs. Calculation
The Stochastic Oscillator has three variables:
%K periods (Pk). This is the number of time periods used in %K calculation. By default is 5;
%K Slowing Periods (Sk). This value controls the internal smoothing of %K. A value of 1 is considered a fast stochastic; a value of 3 is considered a slow stochastic. By default is 3;
%D periods (Pd). This is the number of time periods used when calculating a moving average of %K. By default is 3;
The formula for %K is: %K = 100*SUM (CLOSE - MIN (LOW, Pk), Sk) / SUM (MAX (HIGH, Pk) - MIN (LOW, Pk)), Sk)
Where:CLOSE — is today’s closing price;MIN (LOW, Pk) — is the lowest low in Pk periods;MAX (HIGH, Pk) — is the highest high in Pk periods;SUM (CLOSE - MIN (LOW, Pk), Sk) — amount composed CLOSE - MIN (LOW, Pk) for period Sk;SUM (MAX (HIGH, Pk) - MIN (LOW, Pk)), Sk) — amount composed HIGH (Pk)) - MIN (LOW, Pk) for period Sk. The %D moving average is calculated according to the formula: %D = SMA (%K, Pd)
Where:Pd — is the smoothing period for %K;SMA — is the Simple Moving Average.
Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2009
ommodity Channel Index (CCI) là một công cụ phân tích kỹ thuật rất hữu dụng, hỗ trợ nhà đầu tư trong việc xác định thời điểm mua vào và bán ra theo tính chu kỳ. Nhà đầu tư có thể sử dụng công cụ này một cách hiệu quả thông qua 2 cách: tính bước nhảy thời gian tốt nhất hoặc sử dụng kèm với các công cụ phân tích kỹ thuật khác như Moving Average, Candlestick Patterns.
Commodity Channel Index (CCI) là một công cụ phân tích kỹ thuật thuộc nhóm các chỉ số dao động, được xây dựng bởi Donald Lambert và giới thiệu qua quyển sách “Commodities Channel Index: Tools for Trading Cyclical Trends” của ông.Kể từ khi được giới thiệu, công cụ phân tích này trở nên ngày càng phổ biến. Nó giúp các nhà đầu tư hàng hóa, chứng khoán hay ngay cả tiền tệ xác định chu kỳ dao động giá để đầu tư vào đúng thời điểm hợp lý.Trong số này, chúng ta sẽ tìm hiểu chính xác cách tính chỉ số CCI và phương pháp áp dụng chỉ số này để đưa ra được những quyết định đầu tư chính xác hơn.Cũng như công cụ khác trong nhóm các chỉ số dao động, CCI được xây dựng để dự báo mức “mua quá mức” và “bán quá mức” bằng cách đo lường mối liên hệ giữa giá cổ phiếu và một đường trung bình động hay cụ thể hơn là độ lệch so với đường trung bình động đó.Công thức tính:Trong đó,Typical Price = (Giá cao nhất + Giá thấp nhất + Giá đóng cửa) / 3Simple Moving Average = Trung bình đơn giản của Giá đóng cửaMean Deviation = Độ lệch trung bình của Typical Price và Simple Moving AverageĐiều cần thiết trước khi tính CCI là phải xác định được một bước nhảy thời gian nhất định. Bước nhảy này sẽ hỗ trợ nâng cao độ chính xác của CCI. Vì đây là công cụ dự đoán chu kỳ dao động dựa trên những đường trung bình động, số ngày tính trung bình động càng dài thì độ chính xác càng cao.Điều này đúng với đa số công cụ khác trong nhóm các chỉ số dao động. Do đó, tuy phần lớn nhà đầu tư sử dụng 20 ngày là bước nhảy thời gian chuẩn để tính CCI, xác định một bước nhảy chính xác hơn sẽ giúp giảm những tín hiệu sai lệch.Dưới đây là 4 bước cơ bản để xác định bước nhảy thời gian tốt nhất:1/ Mở biểu đồ giá cổ phiếu trong vòng 1-2 năm2/ Xác định 2 điểm cao nhất hoặc thấp nhất trên biểu đồ3/ Ghi lại khoảng cách giữa 2 điểm cao nhất hoặc thấp nhất đó4/ Chia khoảng cách này cho 3 ta sẽ được một bước nhảy thời gian tốt nhất để đưa vào tính CCI.Ví dụ: áp dụng tính bước nhảy thời gian cho VN-IndexBiểu đồ CCI (14 ngày) áp dụng cho VN-IndexVới biểu đồ trên, chúng ta có thể thấy chu kỳ giữa 2 điểm cao nhất, bắt đầu từ ngày 17/7 đến ngày 27/8. Chu kỳ này vào khoảng 42 ngày giao dịch, đem chia cho 3 ta sẽ được một bước nhảy thời gian tốt nhất là 14 ngày.Lưu ý là biểu đồ và cách sử dụng công cụ CCI đều gần giống như những công cụ khác trong nhóm các chỉ số dao động. Sau đây là một vài tín hiệu cơ bản của công cụ này:Tín hiệu bán:CCI nằm trên đường 100 và bắt đầu chuyển hướng đi xuống.Hiện tượng phân kỳ giảm giữa biểu đồ giá và đường CCI. Cụ thể là đường CCI bắt đầu đi xuống trong khi biểu đồ giá vẫn tiếp tục đi lên hoặc đi ngang. (Xem hình trên)Tín hiệu mua:CCI nằm dưới đường -100 và bắt đầu chuyển hướng đi lênHiện tượng phân kỳ tăng giữa biểu đồ giá và đường CCI. Cụ thể là đường CCI bắt đầu đi lên trong khi biểu đồ giá vẫn tiếp tục đi xuống hoặc đi ngang.
Thứ Ba, 25 tháng 8, 2009
Ngành vận tải đường biển và cảng biển
Khảo sát của bộ phận phân tích CTCP Chứng khoán Sài Gòn SSI đối với 4 doanh nghiệp VSC, DXP, VNA và VOSCO. Trong khi các công ty vận tải hàng rời khó khăn, vận tải cảng bội thu.
Báo cáo phân tích mới nhất của CTCP Chứng khoán Sài Gòn SSI ra ngày 21/08 sau khi khảo sát 4 doanh nghiệp tại Hải Phòng trong lĩnh vực vận tải hàng rời và vận hành cảng cho rằng, nhìn chung ngành vận tải hàng rời vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong nửa cuối năm 2009 mặc dù các công ty cũng đã nỗ lực trong việc tìm nguồn hàng và cắt giảm chi phí.
Bốn công ty được khối phân tích SSI đánh giá là CTCP Cảng Đoạn Xá (mã DXP), CTCP Vận tải biển Vinaship (mã VNA), CTCP Container Việt Nam (mã VSC) và CTCP Vận tải biển Việt Nam (Vosco – OTC).
Tình hình chung
Giá cước chưa có dấu hiệu cải thiện trong quý III khi chỉ số BDI sau khi đạt mức đỉnh 4.070 trong tháng Sáu đến nay đã quay đầu giảm tới 35% (trong đó trong tháng Tám đã giảm tới 21%). Tuy mức giảm này chưa phản ánh hoàn toàn vào giá cước thuê tàu, nhưng cũng sẽ gây một sức ép cho cho việc hồi phục của giá cước trong thời gian tới.
Chỉ số vận tải biển tăng mạnh vào tháng 5/09 sau đó lại giảm mạnh (Nguồn: SSI Research)
Trong khi đó, do quy hoạch cảng khu vực phía Bắc vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu nên các doanh nghiệp vận hành cảng vẫn tiếp tục có tăng trưởng tốt về cả doanh thu và lợi nhuận trong điều kiện họat động ngoại thương cũng như vận tải nội địa suy yếu trong năm 2009.
Khối lượng xuất khẩu các mặt hàng rời chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 2008 - 2009 (nguồn: SSI)
Công ty cổ phần vận tải biển Vinaship (mã CK: VNA - HOSE)
Theo khảo sát của bộ phận phân tích SSI, tình hình kinh doanh của VNA không có nhiều đột biến và vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của giá cước vận tải giảm 40% so với cùng kỳ năm 2008. Triển vọng cả năm của công ty là khá khó khăn.
Lợi nhuận của công ty có thể có trong cuối năm 2009 nhờ kế hoạch thanh lý 2 tàu cũ và thanh lý một phần danh mục đầu tư (có thể là cổ phiếu MSB của NHTMCP Hàng Hải – VNA đang nắm 3,1 triệu cổ phiếu MSB với giá vốn 10.000 đồng/cp, giá hiện tại của MSC trên thị trường OTC (ngày 24/08) là 22 – 23.000 đồng/cp).
VNA đã mua một chiếc tàu 24000 tấn, 13 tuổi với giá 12.7 triệu USD, công ty có hướng chuyển dần sang chạy các tuyến quốc tế có mức cước cao hơn (nhưng cũng đòi hỏi tàu cỡ lớn và các nguyên tắc an toàn hàng hải cao hơn). Ngoài ra, VNA đã ký hợp đồng thuê định hạn đối với một số tàu với mức giá cao hơn mức hòa vốn khỏang 25% nhằm duy trì họat động và sẽ cố gắng tiếp tục tìm thêm đối tác.
Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá ( Mã CK: DXP - HNX)
Tình hình hoạt động của DXP 6 tháng đầu năm 2009 khá tốt. Tổng sản lượng thông qua cảng đạt 2.7 tr tấn (108% kế hoạch cả năm) và tăng 46% so với cùng kỳ năm 2008. Doanh thu 7 tháng đầu năm đat 89.3 tỷ đạt 112% kế hoạch năm 2009, tăng 64% so với cùng kỳ năm ngoái, LNTT đạt 36 tỷ đồng đạt 225% so với kế hoạch năm 2009, và tăng 127% cùng kỳ năm 2008. EPS 7 tháng đầu năm 6.000 VND/CP.
Theo khảo sát của bộ phận phân tích SSI, hiện nay DXP tiếp nhận 5-6 tàu/tuần trong khi một cầu tàu chỉ có thể tiếp nhận 1 tàu trọng tải 10.000 DWT một lúc. Công ty đang tiến hành chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xếp dỡ sang 100% hàng container do hiệu quả cao hơn (DXP lưu kho bãi 200 container hàng lạnh tại khu vực cảng Hải Phòng) đồng thời tăng tỷ trọng hàng hóa xuất nhập khẩu (hàng hóa xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm giảm nhưng DXP bù đắp được lượng hàng hóa nội địa).
Trong cơ cấu khách của DXP 60% vẫn là các hãng tàu trong nước, bản thân các hãng tàu nội địa cũng đang gặp nhiều khó khăn, vì vậy công ty vẫn có những rủi ro về khả năng thanh toán của khách hàng.
DXP hiện đang vay nợ một số ngân hàng ở Hải phòng 1 khoảng tổng trị giá khoảng 1 tr USD. Tuy nhiên rủi ro tỷ giá của DXP cũng không đáng lo ngại, do phần nhiều doanh thu của DXP là bằng USD, tỷ lệ nợ vay/VCSH=17% mức khá thấp và an toàn.
Triển vọng 6 tháng cuối năm 2009: Từ đầu quý 3 hàng hoá xuất nhập khẩu có dấu hiệu nhích dần, đặc biệt là hàng hoá nhập khẩu tăng. Dự kiến năm 2009 lợi nhuận trước thuế DXP ước đạt khoảng 60 tỷ đồng, theo đó EPS 2009E ước đạt khoảng 11,000 VND/CP.
Theo SSI, PE2009E của DXP khoảng 5x. Dự kiến tổng sản lượng hàng qua cảng năm 2009 đạt khoảng 4.8 tr tấn. Theo SSI khả năng đột biến về sản lượng xếp dỡ hầu như không có do khó có khả năng mở rộng cảng của DXP.
Công ty cổ phần Container Việt Nam ( Mã CK: VSC - HOSE)
Mặc dù trong bối cảnh khó khăn chung của ngành vận tải, phí xếp dỡ container của VSC vẫn không giảm so với một số cảng khác do 100% khách hàng của VSC là những hãng tàu lớn của nước ngoài như APL, Evergreen hay COSCO, OOCL và không có khách hàng trong nước. Những khách hàng này không có rủi ro về mất khả năng thanh toán.
Ngoài ra hiện tượng ứ đọng hàng container đông lạnh tại khu vực cảng Hải Phòng trong đó có cảng Green port của VSC cũng hưởng lợi với lượng container hàng lạnh nằm ở VSC trong quý 2 lên tới 500 container.
Theo SSI, ngoài hoạt động vận hành cảng đem lại nguồn thu 60-70% doanh thu và lợi nhuận cho VSC, công ty vẫn tiếp tục phát triển các mảng kinh doanh khác như vận tải bộ, xây dựng kho CFS mở rộng hay thi công bãi chứa container (CY), xưởng sửa chữa, v.v.
Tháng 8/2009, VSC đã mua thêm 10 xe chở container với chi phí khoảng 4-5 tỷ đồng, đồng thời VSC cũng tiến hành thanh lý những xe đã cũ. Ngoài ra, trong năm 2009, tận dụng giá tàu hạ xuống so với năm 2008, công ty đã tiến hành đầu tư mua tàu container 14 tuổi với giá 2,8 tr USD. Tàu sẽ được tiếp nhận vào ngàu 28/8 và được đưa vào vận hành luôn để chạy tuyến Hải Phòng – Hồng Kông.
Năm 2009, VSC đã điều chỉnh kế hoạch doanh thu và lợi nhuận khi trong 6 tháng đầu năm công ty đã đạt 101.32% kế hoạch lợi nhuận cả năm. Cụ thể VSC điều chỉnh kế hoạch doanh thu từ 300 tỷ lên 360 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế từ 75 tỷ lên 115 tỷ đồng. EPS 2009 dự kiến đạt khoảng 11,000 VND/CP.
Theo đánh giá của SSI, ở mức giá hiện tại, PE2009E của VSC khoảng 8x. Năm 2009, HĐQT đã thông qua kế hoạch phát hành cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 4:1 sử dụng nguồn từ Quỹ đầu tư phát triển của công ty.
Công ty cổ phần vận tải biển Việt Nam (VOSCO - OTC)
Khác với các công ty vận hành cảng, các công ty vận tải hàng rời tiếp tục gặp khó khăn trong năm 2009.
Xét về cơ cấu doanh thu, doanh thu trong hoạt động vận tải của VOSCO giảm tới 37,46% so với cùng kỳ trong khi việc doanh thu dịch vụ tăng 26,82% cũng không tạo ra nhiều tác động tích cực do tỷ trọng của họat động vận tải vẫn chiếm tới 95% tổng doanh thu.
Theo SSI, khách hàng và tuyến vận chuyển của công ty không có nhiều thay đổi so với năm 2008. Sản lượng vận chuyển đạt 2,9 triệu tấn (bằng 45,52% kế hoạch và giảm 5,7% so với cùng kỳ).
Ngày 27/8 tới đây VOSCO nhận thêm tàu Lucky Star (hàng rời, 22.500 DWT, đóng tại Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Bạch Đằng, dự kiến đến cuối 2009 sẽ bàn giao thêm 1 tàu tương tự), đang xem xét mua thêm một tàu Handymax dưới 10 tuổi trị giá khoảng 20 triệu USD... và bán bớt tàu Sông Hằng (24 tuổi, 6379 DWT) và đang trong quá trình bán tàu Cabot Orient (25 tuổi, 4485 DWT).
Công ty đưa vào khai thác 2 tàu container vào khai thác trong năm 2009 nhưng do thị trường vận tải container giảm mạnh nên cũng chưa mang lại được kết quả như mong muốn.
VOSCO đặt kế hoạch lợi nhuận sau thuế 2009 trong đại hội cổ đông 27/4/2009 là 78,75 tỷ VND, chỉ bằng ¼ so với mức lợi nhuận 289 tỷ VND.
Chỉ tiêu | VNA | DXP | VSC | VOSCO |
Doanh thu 6 tháng 2009 | 320,38 | 73,27 | 210,55 | 857.59 |
Lợi nhuận 6 tháng 2009 | -15,83 | 25,14 | 67,6 (hơn 100% kế hoạch) | -70 |
Khách hàng | vận chuyển gạo xuất khẩu cho Vinafood 2 (Tổng công ty lương thực miện Nam) tuyến Việt Nam-Philippin và Việt Nam-Indonesia; vận chuyển phân bón cho Công ty phân bón hoá chất Philippin và than cho Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam. | Khách hàng trong nước bao gồm Vinalines Shipping, VOSCO, Marina Hanoi; khách hàng nước ngoài có Hanjin Shipping, Hapag Lloyd, v.v. Tháng 4 năm 2009, DXP cũng tiếp nhận thêm hãng tàu nước ngoài MSC. | những hãng tàu lớn của nước ngoài như APL, Evergreen hay COSCO, OOCL | vận chuyển gạo xuất khẩu cho Vinafood 1 và Vinafood 2, vận chuyển than tuyến nội địa cho Tổng công ty than và khoáng sản Việt nam |
Hạ tầng cơ sở | Cảng có một cầu tàu dài 220m, độ sâu - 8.4m và 2 cần trục chân đế 40 tấn, có thể tiếp nhận tàu trọng tải 10.000 DWT. Tổng diện tích bãi sử dụng là 6.5 ha. Công ty có 12 xe vận tải container 35-40 MT để vận chuyển hàng hoá. | Cảng Green-port có độ sâu nước biển -7.8m, cùng một lúc có thể tiếp nhận 2 tàu tải trọng 10.000 DWT cập bến làm hàng | Tổng đội tàu hiện nay có 29 chiếc, tổng trọng tải khoảng 561,000 Dwt. Trong đội tàu, có 5 tàu chở dầu, 22 tàu hàng khô và 2 tàu container. | |
Dịch vụ | kinh doanh vận tải (chiếm trên 87%); kinh doanh đại lý tàu biển, đại lý giao nhận hàng hoá, cho thuê kho bãi container. | dịch vụ bốc xếp hàng hoá, kinh doanh kho bãi, vận tải và dịch vụ vận tải thuỷ bộ, đại lý vận tải đường biển, đại lý hàng hải. | khai thác cảng biển, dịch vụ đại lý tàu biển, đại lý giao nhận, khai thác kho bãi, v.v. | vận tải hàng rời, xăng dầu và container |
Thứ Ba, 2 tháng 6, 2009
Phân tích kỹ thuật có “thiêng”? |.. Thông tin kinh tế
Thời gian qua, các nhà đầu tư sử dụng phân tích kỹ thuật gặp phải nhiều thất bại trong dự đoán thị trường. Nhiều người thậm chí còn cho rằng phân tích kỹ thuật không áp dụng được ở Việt Nam. Vậy đâu là nguyên nhân của những thất bại này và liệu phân tích kỹ thuật có thực sự không hiệu quả?
Theo người viết, có ba nguyên nhân chính làm phân tích kỹ thuật chưa hiệu quả: đó là nền tảng của phân tích kỹ thuật không phải lúc nào cũng đúng, sự chậm trễ của các chỉ số và sự áp dụng máy móc của người sử dụng.
Hai nguyên nhân đầu đều có thể được điều chỉnh để thích ứng với thị trường. Riêng nguyên nhân thứ ba là nguyên nhân quan trọng nhất làm cho nhiều nhà phân tích kỹ thuật vấp phải trở ngại.
Chúng ta sẽ xem xét các vấn đề cơ bản của phân tích kỹ thuật và cách sử dụng thường thấy của các nhà đầu tư.
Giá chưa phản ánh hết hành động của thị trường
Giá chứng khoán tại mỗi thời điểm phản ánh một tập hợp tâm lý của rất nhiều các nhà đầu tư trên thị trường. Các nhà đầu tư này bao gồm cả những nhà dự đoán thị trường giỏi nhất cho đến công chúng theo sau.
Tâm lý của họ thể hiện sự kỳ vọng hay thất vọng về chứng khoán với các xu hướng và tin tức trên thị trường. Ngay cả những biến cố bất ngờ chưa được biết đến, khi nó xảy ra, cũng được thị trường phản ánh ngay vào giá chứng khoán.
Giá giao dịch tại mỗi thời điểm luôn là sự cân bằng giữa cung và cầu trên thị trường. Nó phản ánh tất cả hành động của thị trường. Đây là nền tảng cơ bản của lý thuyết Dow và cũng chính là nền tảng quan trọng nhất của phân tích kỹ thuật.
Tuy nhiên, điều này chỉ đúng ở các thị trường phát triển. Với quy mô giao dịch khổng lồ, tại mỗi thời điểm luôn tồn tại một số lượng lớn các nhà đầu tư với những lợi ích và sự kỳ vọng khác nhau về giá chứng khoán.
Bên cạnh đó, giá giao dịch không có bất kỳ ràng buộc nào về biên độ, nó có đủ độ rộng cần thiết để phản ánh đầy đủ các trạng thái cung - cầu trên thị trường.
Khi những điều tồi tệ xảy ra đối với một loại chứng khoán, áp lực cung đủ lớn để buộc nó giảm mạnh, có những trường hợp đã giảm hơn 50% chỉ trong một ngày giao dịch. Sự giảm giá khủng khiếp của Bear Stearn, Freddie Mac hay Fannie Mae gần đây là những ví dụ điển hình.
Còn tại thị trường Việt Nam, có hai vấn đề làm giá chứng khoán trong nhiều trường hợp đã không phản ánh đầy đủ mối quan hệ giữa cung và cầu.
Thứ nhất, quy mô giao dịch chưa lớn đủ để luôn tồn tại nhiều nhà đầu tư với các quyền lợi trái ngược nhau cần được đảm bảo.
Trong nhiều trường hợp, một số cổ phiếu không có giao dịch trong suốt một thời gian dài không phải vì không có người mua hoặc người bán, mà do một số nguyên nhân chủ quan phi thị trường nào đó, điển hình như cổ phiếu HSC, YSC giai đoạn cuối 2007 gần như không có giao dịch. Các cổ phiếu này do một số ít cổ đông nắm giữ và họ chưa có nhu cầu tham gia thị trường.
Thứ hai là biên độ ngăn cản sự thể hiện giá. Khi cầu hoặc cung áp đảo, áp lực tăng giá hoặc giảm giá là rất lớn. Do giới hạn giá trần, các nhà đầu tư không thể tăng giá mua để đáp ứng kỳ vọng mong đợi của bên bán, xuất hiện tình trạng dư cầu và giá không đạt được sự cân bằng giữa cung và cầu.
Khi cung áp đảo cầu, áp lực giảm giá lớn. Do giới hạn giá sàn, các nhà đầu tư không thể giảm giá mua để đáp ứng kỳ vọng mong đợi của bên mua, xuất hiện tình trạng dư cung và giá không đạt được sự cân bằng giữa cung và cầu.
Việc đưa ra các bằng chứng cụ thể là một điều không có gì khó khăn. Trong đợt tăng giá từ 11/6/2008 đến 25/7/2008, thị trường đã trải qua cả hai thái cực: tranh bán và tranh mua.
Với các đặc trưng này của thị trường, trong các trường hợp tranh mua/tranh bán và quy mô giao dịch nhỏ, giá không phản ánh đầy đủ mối quan hệ cung - cầu. Cũng có nghĩa là: giá không phải lúc nào phản ánh tất cả các hành động của thị trường. Nền tảng của phân tích kỹ thuật không phải lúc nào cũng đúng ở Việt Nam.
Sự chậm trễ quá mức của các chỉ số kỹ thuật
Các chỉ số kỹ thuật vốn được xây dựng như là các công cụ hỗ trợ cho chiến lược giao dịch của nhà đầu tư. Chúng không phải là chủ đề chính của phân tích kỹ thuật. Đặc biệt là các chỉ số kỹ thuật thường chậm hơn sự biến động giá.
Ở thị trường chứng khoán Việt Nam, khi giá không phản ánh hết các hành động của thị trường, các chỉ số bị ảnh hưởng và còn tỏ ra chậm chạp hơn. Sự ảnh hưởng thể hiện qua các vấn đề sau: vấn đề khối lượng giao dịch: theo phân tích kỹ thuật, khối lượng giao dịch tăng sẽ củng cố cho xu hướng hiện tại (giá tăng hoặc giảm mạnh do các nhà đầu tư hoạt động mạnh hơn (mua, bán nhiều hơn) kéo theo khối lượng giao dịch tăng).
Khi thị trường tăng hoặc giảm mạnh thường là thời điểm tranh mua hoặc tranh bán, khối lượng giao dịch có xu hướng thu hẹp. Sau đó, khi khối lượng giao dịch tăng mạnh thường là thời điểm phân phối (xả hoặc gom hàng), nó đặt ra nghi vấn cho sự tồn tại của xu hướng trước đó (liệu có một sự đảo chiều chăng?), chưa cho thấy ý nghĩa của sự củng cố xu hướng.
Hậu quả của tình trạng này là các chỉ số kỹ thuật xây dựng dựa trên sự kết hợp giá và khối lượng giao dịch đều bị biến dạng. Các chỉ số On Balance Volume, Money Flow Index,... không đáng tin cậy trong nhiều trường hợp.
Khi áp dụng ở Việt Nam các tín hiệu bán (sell signal), tín hiệu mua (buy signal) mà nhiều nhà giao dịch thường thực hiện theo phân tích kỹ thuật, trong một số trường hợp, đã là quá trễ để thực hiện mua/bán. Thị trường tranh mua hoặc tranh bán và không còn cơ hội cho nhà đầu tư theo sau.
Sự áp dụng máy móc của người sử dụng ở Việt Nam
Do tính chất phân tích sự kỳ vọng/thất vọng của nhà đầu tư trong ngắn hạn, phân tích kỹ thuật đòi hỏi phải hiểu rõ và áp dụng hiệu quả các quy luật tâm lý, sử dụng nhiều công cụ để đo lường tâm lý và nhạy bén với thông tin. Việc sử dụng phân tích kỹ thuật là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi một quá trình nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm.
Thế nhưng, với nhiều người Việt Nam, việc sử dụng phân tích kỹ thuật dường như là một câu chuyện hết sức đơn giản: sử dụng một phần mềm chuyên dụng; cập nhật dữ liệu giá và khối lượng giao dịch; vẽ các chỉ số kỹ thuật; quan sát các tín hiệu mua (buy signal), tín hiệu bán (sell signal). Nghi ngờ khi giá chứng khoán đi vào vùng mua quá mức (overbought), bán quá mức (oversold).
Trong các tài liệu về phân tích kỹ thuật cũng có bàn về vấn đề phân tích kỹ thuật không quan tâm tới nguyên nhân mà chỉ quan tâm tới điều đó sẽ xảy ra như thế nào.
Người ta ví von phân tích kỹ thuật là một nghệ thuật của việc vẽ và áp dụng các biểu đồ.
Bởi vậy, không có gì là khó hiểu khi nhiều người đã thất bại. Họ không nắm bắt được tâm lý của thị trường. Và một khi không quan tâm đến nguyên nhân, họ thậm chí còn không biết vì sao mình sai."
Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2009
Các chỉ báo ( Indicator)
Đây có thể được coi là một phần quan trọng trong phân tích kỹ thuật. Bạn có thể tính toán sự phụ thuộc của 2 chỉ báo chính: đường đi và cường độ của xu hướng, thì bạn hầu như chắc chắn làm chủ hướng đi của xu hướng thị trường. Điều quan trọng khi sử dụng công cụ chỉ báo là phải hiểu rõ các chỉ báo đó xây dựng để phục vụ điều gì và tác dụng của nó như thế nào? Như vậy bạn có thể áp dụng các chỉ báo đó một cách hiệu quả.
1. Chỉ báo về dao động (Volatility Indicators)
* Average True Range
* Bollinger Bands
* Commodity Channel Index
* Moving Average (Variable)
* ODDS Probability Cones
* Relative Volatility Index
* Standard Deviation
* Standard Error Bands
* Volatility, Chalkin's
2. Chỉ báo về xung lượng (Momentum Indicators)
* Accumulation Swing Index
* Chande Momentum Oscillator
* Commodity Channel Index
* Dynamic Momentum Index
* Intraday Momentum Index
* Linear Regression Slope
* MACD
* Mass Index
* Momentum Indicator
* Price Oscillator
* Price Rate-Of-Change
* Random Walk Index
* Range Indicator
* Relative Momentum Index
* Relative Strength Index
* Stochastic Momentum Index
* Stochastic Oscillator
* Swing Index
* Trix
* Ultimate Oscillator
* Williams' %R
* Williams' Accumulation-Distribution
3. Chỉ báo theo chu kỳ (Cycle Indicators)
* Cycle Lines
* Detrended Price Oscillator
* Fibonacci
* Fourier Transform
* MESA Sine Wave Indicator
4. Chỉ báo cường độ thị trường (Market Strength Indicators)
* Accumulation-Distribution
* Chaikin Money Flow
* Chaikin A/D Oscillator
* Demand Index
* Ease of Movement
* Herrick Payoff Index
* Klingler Oscillator
* Money Flow Index
* Moving Average (Volume Adjusted)
* Negative Volume Index
* On Balance Volume
* Open Interest
* Positive Volume Index
* Price Volume Trend
* Trade Volume Index
* Volume
* Volume Oscillator
* Volume Rate-Of-Change
5. Chỉ báo mức hỗ trợ và kháng cự (Support and Resistance Indicators)
* Andrew's Pitchfork
* Envelope
* Fibonacci Arcs, Fans, Retracements
* Gann Lines, Fans, Grids
* Ichimoku Kinko Hyo
* Projection Bands
* Projection Oscillator
* Quadrant Lines
* Speed Resistance Lines
* Tirone Levels
* Trendlines
6. Chỉ báo về xu hướng (Trend Indicators)
* Aroon
* Commodity Selection Index
* DEMA
* Directional Movement
* Forecast Oscillator
* Linear Regression Indicator
* Linear Regression Slope
* Linear Regression Trendline
* MACD
* Moving Averages (all methods)
* Parabolic SAR
* Performance
* Polarized Fractal Efficiency
* Price Oscillator
* Qstick Indicator
* r-squared
* Raff Regression Channel
* Standard Deviation Channel
* Standard Error
* Standard Error Bands
* Standard Error Channel
* TEMA
* Time Series Forecast
* Vertical Horizontal Filter